Soạn văn 11 bài Tôi có một ước mơ ngắn nhất

Hướng dẫn Soạn văn 11 bài Tôi có một ước mơ ngắn nhất. Trả lời toàn bộ câu hỏi trong SGK Ngữ văn 11 kết nối tri thức chi tiết, đầy đủ bám sát chương trình học.


I. Tác giả, tác phẩm


1. Tác giả

- Mác-tin Lu-thơ Kinh (1929 - 1968) là mục sư, nhà hoạt động nhân quyền người Mĩ gốc Phi

- Ông là một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất nước Mỹ, niềm tự hào của nhân dân trên thế giới.

- Mác-tin Lu-thơ Kinh nổi tiếng với các bài diễn thuyết liên quan đến các vấn đề nóng của thế giới, về con người, về xã hội và về những điều là bài học của cuộc sống.

- Mục sư Martin Luther King đi vào lịch sử với nhiều thành tựu nổi bật. Trong đó nổi tiếng nhất phải kể đến bài diễn văn Tôi có một ước mơ được đọc ở Washington vào ngày 28-8-1963. Một giấc mơ mà ở đó những đứa trẻ da đen và những đứa trẻ da trắng cùng nắm tay nhau như anh em một nhà.

- Năm 1964, ông được lựa chọn trao giả Nobel hòa bình vì những đóng góp của mình.


2. Tác phẩm

a. Thể loại

Tôi có một ước mơ thuộc thể loại văn nghị luận.

b. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác

Tác phẩm ra đời vào ngày 28 - 8 - 1963, Mác-tin Lu-thơ Kinh đã tham gia tổ chức tuần hành tại Oa-sing-ton. Buổi tuần hành nhằm mục đích kêu gọi tham gia đạo luật dân quyền, bình đẳng cho người da đen. Tại đây, Mac-tin đã đọc bài diễn thuyết này.

c. Phương thức biểu đạt

- Phương thức biểu đạt: nghị luận

d. Bố cục 

- Gồm 3 phần:

+ Phần 1: Từ đầu đến “tình trạng đáng xấu hổ này”: Mục đích hướng tới của tác giả và thực trạng cuộc sống của người da đen trên đất Mỹ.

+ Phần 2: Tiếp đến “là sự thật hiển nhiên”: Cuộc đấu tranh của những người da đen.

+ Phần 3: Còn lại: Giấc mơ của người da đen ở nước Mỹ.

e. Giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật

- Giá trị nội dung

+ Mục đích của văn bản khẳng định quyền bình đẳng của người da đen

+ Lời kêu gọi sự đấu tranh giành quyền bình đẳng cho người da đen.

- Giá trị nghệ thuật

+ Sử dụng những hình ảnh, câu văn có sức truyền cảm.

+ Lập luận chặt chẽ, thuyết phục

Soạn văn 11 bài Tôi có một ước mơ ngắn nhất

II. Trả lời câu hỏi sách giáo khoa

1. Trong khi đọc


Câu 1 (trang 80, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Xác định mục đích hướng tới của tác giả ở bài diễn văn này.

Lời giải:

- Mục đích hướng tới của tác giả ở bài diễn văn này là cuộc biểu tình cho sự tự do.


Câu 2 (trang 80, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Ý nghĩa của việc dẫn ra văn kiện lịch sử nổi tiếng của nước Mỹ là gì?

Lời giải:

- Thể hiện sự tôn trọng sắc lệnh của Mỹ.

- Dùng cách lập luận gậy ông đập lưng ông để đấu tranh cho tự do của những người da đen.

- Thể hiện khát vọng tự do, bình đẳng của những người da đen.


Câu 3 (trang 80, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Theo dõi cách tác giả nói về thời điểm cần thiết để đòi công lí.

Lời giải:

- Thời điểm cần thiết để đòi công lý: Ngay bây giờ.


Câu 4 (trang 81, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Chú ý quan điểm đấu tranh của tác giả.

Lời giải:

- Quan điểm đấu tranh của tác giả:

+ Đừng tìm cách thỏa mãn cơn khát tự do bằng những chén hận thù và cay đắng.

+ Chúng ta phải luôn luôn tranh đấu với nguyên tắc và lòng tự trọng cao.

+ Chúng ta không được phép để cuộc phản kháng sáng tạo của chúng ta nhuốm màu bạo lực.

+ Chúng ta phải tiến lên uy nghi với cả sức mạnh vật chất và tâm hồn.


Câu 5 (trang 81, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Qua cách diễn đạt và đưa ra bằng chứng, tác giả đã thể hiện thái độ và tình cảm của mình như thế nào?

Lời giải:

- Thái độ và tình cảm của tác giả: Sự phẫn nộ và tinh thần đấu tranh của tác giả trước những sự việc người da đen bị phân biệt đối xử. Từ đó, tác giả thể hiện niềm mong ước tự do bình đẳng cho người da đen.


Câu 6 (trang 82, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Chú ý ngôn ngữ và giọng điệu của tác giả khi thể hiện niềm tin và ước mơ.

Lời giải:

- Ngôn ngữ và giọng điệu: sử dụng những hình ảnh, câu văn có sức truyền cảm; lập luận chặt chẽ, thuyết phục.


Câu 7 (trang 82, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Biện pháp tu từ nào được tác giả sử dụng nhằm tác động mạnh đến người đọc, người nghe?

Lời giải:

- Biện pháp điệp cấu trúc: "Tôi mơ rằng....".


Câu 8 (trang 83, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Bạn có ấn tượng, cảm xúc gì về đoạn kết?

Lời giải:

Đoạn kết đã khẳng định lại quan điểm của Mác-tin Lu-thơ Kinh là người da đen được đối xử bình đẳng với người da trắng. Tác giả dẫn ra câu hát “Tự do cuối cùng đã đến! Tự do cuối cùng đã đến! Tạ ơn Đức Chúa Đấng Tạo Hóa Toàn Năng, cuối cùng chúng ta đã được tự do!” khiến cho người đọc, người nghe cảm thấy xúc động, nghẹn ngào, mọi đau hờn, tủi nhục cuối cùng họ cũng đã thực hiện được ước mơ và cũng là để thể hiện ước mơ về quyền bình đẳng của người da đen.

2. Sau khi đọc


Câu 1 (trang 84, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Vấn đề trọng tâm được đề cập ở văn bản Tôi có một ước mơ là gì?

Lời giải:

Vấn đề trọng tâm được đề cập ở văn bản Tôi có một ước mơ: khẳng định quyền bình đẳng của người da đen và kêu gọi sự đấu tranh giành quyền bình đẳng cho người da đen.


Câu 2 (trang 84, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Chỉ ra các luận điểm được tác giả triển khai trong văn bản.

Lời giải:

Các luận điểm được tác giả triển khai trong văn bản:

- Cần lên tiếng về thảm trạng người da đen bị đối xử bất công.

- Trong quá trình chiến đấu giành lại địa vị xứng đáng của mình, những người đấu tranh không được phép hành động sai lầm.

- Chỉ khi người da đen được đối xử bình đẳng thì cuộc đấu tranh mới dừng lại.


Câu 3 (trang 84, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Phân tích cách tác giả dùng lí lẽ và bằng chứng để trình bày quan điểm của mình nhằm thuyết phục người nghe, người đọc.

Lời giải:

Lí lẽBằng chứng

- Một trăm năm trước, Lin-cơn đã ký bản Tuyên ngôn Giải phóng nô lệ.

- Nhưng một trăm năm sau người da đen vẫn chưa được tự do.

Người da đen vẫn bị thít chặt trong gông cùm của luật cách li và xiềng xích của óc kì thị, vẫn phải sống trong một hoang đảo nghèo đói giữa đại dương bao la của sự phồn thịnh vật chất và vẫn phải sống mòn trong những góc khuất của xã hội Mỹ, thấy mình chỉ là kẻ lưu vong ngay trên quê hương mình

- Không được để cho cuộc phản kháng đầy sáng tạo sa vào bạo loạn.

- Tinh thần chiến đấu quật cường mới vừa trào sôi trong cộng đồng người da đen không được đẩy đến chỗ ngờ vực tất cả người da trắng.

Có rất nhiều người da trắng đã nhận ra vận mệnh của họ gắn liền với vận mệnh của người da đen, rằng tự do của họ không thể tách rời với tự so của người da đen.
Giấc mơ bắt nguồn sâu thẳm trừ trong giấc mơ của nước Mỹ (niềm tin rằng nước Mỹ luôn tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người, bất kể xuất thân, hoàn cảnh, địa vị xã hội,...

Không bao giờ hài lòng khi:

- Người da đen vẫn còn là những nạn nhân câm lặng của vấn nạn bạo lực từ cảnh sát.

- Sau chặng đường dài mệt mỏi, không thể tìm được chốn nghỉ chân trong quán trọ ven xa lộ hay khách sạn trong thành phố.

- Con cái người da đen bị tước đoạt nhân phẩm và lòng tự trọng bởi những tấm biển đề "Chỉ dành cho người da trắng".

- Người da đen ở Mi-xi-xi-pi không có quyền bầu cử, người da đen ở Niu Oóc tin rằng đi bà cũng chẳng để làm gì.


Câu 4 (trang 84, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Trong đoạn kết của văn bản, tác giả đã bộc lộ ước mơ gì? Hình ảnh “tự do ngân vang từ những đỉnh đồi, […] ngọn núi" có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện ý tưởng và cảm xúc của tác giả?

Lời giải:

- Trong đoạn kết của văn bản, tác giả đã bộc lộ ước mơ về sự tự do và bình đẳng.

- Hình ảnh “tự do ngân vang từ những đỉnh đồi, […] ngọn núi” có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện ý tưởng và cảm xúc của tác giả. Tác giả tin rằng nước Mỹ luôn tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người, bất kể xuất thân, hoàn cảnh, địa vị xã hội,...


Câu 5 (trang 84, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Hãy chỉ ra và phân tích hiệu quả của các biện pháp tu từ (điệp ngữ, ẩn dụ,.) đã được tác giả sử dụng.

Lời giải:

- Biện pháp điệp ngữ: Tôi có một ước mơ, Chúng ta, Đây là lúc…

- Biện pháp ẩn dụ: “Thoát khỏi bóng đêm và thung lũng hoang tàn của sự phân biệt chủng tộc, con đường chan hòa ánh nắng của sự bình đẳng về chủng tộc, vùng cát lún của sự bất công…”

→ Tác dụng:

+ Giúp nhấn mạnh thái độ căm phẫn của tác giả khi thấy những người da đen khi bị đối xử phân biệt, bất công.

+ Giúp thể hiện ước mơ về tự do và nhân quyền cho những người da đen.

+ Tăng sức biểu cảm cho sự diễn đạt.


Câu 6 (trang 84, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả đối với nước Mỹ qua văn bản.

Lời giải:

Đối với tác giả, Mỹ là một quốc gia đa sắc tộc, đa văn hóa. Tuy nhiên, ẩn sau bức màn văn hóa đó bao năm qua vẫn âm ỉ tình trạng phân biệt sắc tộc, đặc biệt là sự kỳ thị của những người Mỹ da trắng với cộng đồng người Mỹ gốc Phi. Chính vì lẽ đó, tác giả muốn tất cả mọi người dân đều được sống trong một đất nước tự do bình đẳng để đất nước có thể phát triển. Từ đó, bộ lộ tình cảm sâu sắc của tác giả với đất nước Mỹ và người dân Mỹ gốc Phi bị đối xử phân biệt. Vì thế, nước Mỹ cần có những chính sách và hành động quyết liệt để ước mơ để ước mơ của tác giả không chỉ mãi là ước mơ.


Câu 7 (trang 84, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Theo bạn, quan điểm và ước mơ của tác giả được thể hiện trong văn bản đến nay còn có ý nghĩa không? Hãy lí giải ý kiến của bạn.

Lời giải:

Theo em, quan điểm và ước mơ của tác giả được thể hiện trong văn bản đến nay vẫn còn rất ý nghĩa. Mặc dù hiện nay đất nước ngày càng tôn trọng sự tự do và bình đẳng nhưng mà đâu đó, góc tối về sự phân biệt chủng tộc vẫn còn tồn tại. Ví dụ như sự kỳ thị của những người Mỹ da trắng với cộng đồng người Mỹ gốc Phi, tình trạng phân biệt đối xử của các nhân viên thực thi pháp luật da trắng với công dân da màu. Các vụ liên tiếp xảy ra gần đây với mức độ nguy hiểm đã gióng lên hồi chuông báo động về nạn phân biệt chủng tộc có xu hướng gia tăng ở Mỹ. Tuy nhiên, từ đó đến nay, vẫn còn rất nhiều câu hỏi đặt ra xung quanh vấn đề bình đẳng xã hội tại Mỹ khi nỗi ám ảnh chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vẫn còn đang len lỏi trong mọi mặt của đời sống xã hội.Từ đó, chúng ta càng nên vận động, tuyên truyền và đồng lòng hơn nữa, để kêu gọi và giải quyết vấn nạn này, đòi hỏi quyền tự do và bình đẳng cho mỗi người dân trên thế giới.


Câu 8 (trang 84, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Từ bài diễn văn Tôi có một ước mơ, bạn rút ra được bài học gì trong việc tạo lập một văn bản nghị luận giàu sức thuyết phục.

Lời giải:

Từ bài diễn văn Tôi có một ước mơ, bài học được em rút ra trong việc tạo lập một văn bản nghị luận giàu sức thuyết phục là:

- Tạo lập văn bản nghị luận gồm nhiều thành tố: luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng,…. Các thành tố này phải được tổ chức thành một chỉnh thể, có quan hệ chặt chẽ với nhau, thuyết phục người đọc.

- Biết vận dụng kết hợp đa dạng các phương thức biểu đạt và biện pháp tu từ.

Vũ Hồng Nhung
29/11/2023
Đánh giá bài viết
icon-make-question icon-make-question